11. Chương 9
Câu chuyện bữa giỗ tại nhà ông Lục hôm nào, những tưởng chẳng có gì đáng nói, không ngờ, chỉ một tuần sau là nổ lớn. Khắp thôn đông Xuân Thủy xôn xao, bán tín bán nghi về bản tin ông Lục giết gà làm giỗ cho con....Ông ta đã không làm đơn xin phép nhà nước, trái lại, còn mời thành phần xấu đến tham dự. Quanh bản tin này, có hai luồng dư luận xem ra trái chiều nhau. Những người thân tín của Bảng qủa quyết rằng: Bữa giỗ chỉ là cái... rổ, ông Đăng dùng để che mắt nhà nước trong lúc ông ta đi làm công tác, móc nối những thành phần chống đối nhà nước cho thằng địch. Nghĩa là ông ta tính đánh vào những chỗ nhà nước không phòng bị!
Luận cứ này không phải là không có lý. Bởi vì gần đây nhiều gia đình được “gọi là có công với cách mạng” đã ra mặt phỉ báng và chống đối những việc làm tầm bậy, tầm bạ, bất nhân bất nghĩa của Việt cộng như câu chuyện xảy ra ở Yên Mô, Ninh Bình đã được truyền miệng trên khắp đất bắc:
Ông Phạm Lê, người làng Yên Mô Thượng là một viên chức nhỏ, giữ nhiệm vụ coi kho thóc đóng thuế của vùng Yên Mô, Ninh Bình từ trước khi có Việt Minh. Ông có hai người con trai đã đậu tú tài Pháp vào đầu thập niên 1940 là Phạm Chước và Phạm Lan. Sau khi đỗ đạt, thay vì ra làm việc với nhà nước bảo hộ, một ngày kia, cả hai anh em cùng rũ nhau theo Việt Minh đi kháng chiến đánh Tấy! Chuyện họ đi kháng chiến đánh tây với thành tích ra sao dân làng không một ai hay biết. Nhưng vào một ngày đầu năm 1950, toàn thể dân làng Yên Mô Thượng, một làng có lẽ được xếp vào hàng lớn và giàu có của Ninh Bình lúc bấy giờ, phải bỏ làng, bỏ xóm mà chạy khi nghe tin Việt Minh kéo về. Trong lúc dân làng hoảng sợ, tay bồng tay bế, dắt diú nhau bỏ của chạy lấy người. Ông Phạm Lê, thay vì cùng chạy tản cư ra tỉnh, vào tề với dân làng cho có bạn, ông lại dứng ra giữa đường, ngăn cản và khuyên bảo dân làng ở lại bằng những lời lẽ được chỉ đạo như sau:
- Hỡi đồng bào, làng ta sắp có hòa bình, sắp được giải phóng rồi. Bà con còn chạy đi đâu? Cứ nghe tôi ở lại với nhà cửa, với gia sản, với đồng ruộng, với kháng chiến mà nắm bắt lấy tự do độc lập ấm no hạnh phúc!
Theo lời khuyên của ông, một số người tin theo và ở lại. Nhưng đại đa số dân làng thì “bụng cứ rốn”! Nghe tin Việt Minh về là bỏ của chạy lấy người đã, còn tự do độc lập và hạnh phúc của chúng có hay không thì cứ từ từ xem sau cũng chưa muộn.
Kết quả, ngay đêm về làng làm giải phóng, “ bộ đội cụ hồ” đã tận tình vào từng nhà, gặp người thì tra khảo của, vơ vét thùng gạo, bắt gà, vịt, cả heo, chó, của dân làng ra mổ bụng. Ăn không hết thì gánh mang theo. Dân làng Yên Mô trông thấy bọn Việt Minh làm trộm cướp như thế nhưng không ai dám ho một tiếng. Trái lại, ngồi ru ú, ôm nhau ở góc nhà bằng đôi mắt chỉ có lòng trắng, mặc chúng muốn làm gì thì làm.
Sau khi chúng kéo nhau đi, một số người định bụng sẽ đến nhà ông Phạm Lê mà mắng vốn, hoặc chủi toáng lên một trận rồi muốn đến đâu thì đến. Khi đi đến căn nhà mái ngói đỏ, sân gạch cao của ông Phạm Lê, chẳng ai nom thấy bóng dáng ông và người nhà của ông. Họ tụm năm, túm ba, to nhỏ, nghi ngờ ông Phạm Lê lừa dân làng ở lại, còn ông ta thì đã nhanh chân bỏ chạy từ lâu rồi. Lại có người nghi hoặc ông ta đã đi theo Việt Minh!
Giữa lúc chưa ai tìm được câu trả lời chính xác về ông, một bản tin truyền miệng lan rất nhanh, rồi làm cho toàn dân vùng Yên Mô mặt cắt không còn giọt máu:
- Ông Phạm Lê đã bị Việt Minh chặt đầu. Chúng giết ông và treo cái đầu của ông trên cái cọc cắm ngay ở ngã ba đầu làng. Trên cái cọc ấy còn viết một bản án theo lệnh của Hồ chí Minh là “ Việt Minh xử tử tên Việt Gian bán nước”
Câu chuyện ông Phạm Lê bị Việt Minh chặt đầu, cả tuần sau mới có vài người thân đến lấy xác đem đi chôn làm cho cả vùng Yên Mô mất ăn mất ngủ, nhưng chưa ngừng lại ở đây. Trái lại, sau ngày gọi là hòa bình và trong mùa đấu tố, hai người con trai của ông chưa có dịp về lại làng xưa. Nhân mùa đấu tố tạm ngưng, họ cùng hẹn nhau về thăm làng. Dĩ nhiên, khi về cả hai không còn là những ông tú thư sinh ngày nào, nhưng là những quan cán dạn dày gío sương của nhà nước. Trung tá Phạm Chứơc, Thiếu Tá Phạm Lan. Cả hải đều thuộc đơn vị chiến đấu đóng ở Việt Bắc sau chiến dịch điện biên.
Niềm vui áo gấm về làng chưa thấy, cả hai đã bị đội cải cách Yên Mô Thượng túm cổ, định đưa ra pháp trường. Cũng may, nhờ có trên can thiệp kịp thời, đặc biệt là vì đã có lệnh sửa sai nên hai quan nhớn được trả về đơn vị, không bị giết oan vì bản án là “ thành phần con cái Việt Gian bán nước được gài vào trong quân đội nhân dân”. Sau khi chết hụt, được thả ra, Phạm Chước và Phạm Lan mới biết ông Phạm Lê đã bị Việt Minh xử tử từ năm 1950.
Có uất ức và giận nhà nước cũng bằng thừa. Hơn thế, phải tự bảo vệ cho tương lai sinh mệnh và chính trị của mình, cả hai củng đến Ủy ban hành chánh Yên Mô trình bày sự kiện và xin bản án về trưòng hợp của ông Phạm Lê.
Kết qủa. Ủy Ban hành chánh Yên Mô xác nhận là đã giết… nhầm! Sau khi có được bản giấy xác nhận giết nhầm, cả hai ông Phạm Chước và Phạm Lan, thay vì được thăng quan tiến chức, họ đều nhận được giấy cho về phục viên! Cả hai nổ đom đóm mắt nhìn bản án phục viên rồi lặng lẽ bỏ Yên Mô không lời từ giã. Chẳng còn ai biết họ trôi dạt về đâu!( viết theo lời kể của người dân Yên Mô Thượng)
Trở lại Xuân Thủy, nhiều người cho rằng: Nếu ông Đăng làm gián điệp cho thằng địch, ông ta sẽ không đi móc nối gia đình liệt sỹ của Việt cộng vào trong tổ chức. Nói cách khác, họ không tin theo nhời Bảng. Họ cho rằng, chỉ tại miếng thịt gà!
Về phía các nạn nhân, khi nghe làng xóm to nhỏ về bữa ăn, ông bà Lục, ông bà Đăng nhìn nhau bật cười. Họ bật cười vì câu chuyện chỉ bắt nguồn từ sự kiện, trâu buộc ghét trâu ăn. Nói trắng ra là vì không được mời ăn miếng thịt gà tại nhà ông Lục, nên chủ nhiệm Bảng thổi phồng sự việc lên cho nó thêm phần nghiêm trọng. Họ không mấy bận tâm. Tuy nhiên, chỉ vài ngày sau, ông bà Lục tắt hẳn tiếng cười và phía ông bà Đăng giống như người ngồi giữa lò lửa. Lý do, ông Đăng đã là người được nhà nước liệt kê vào thành phần xấu. Một thành phần tối nguy hiểm của nhà nước. Lúc này, đeo thêm cái tội đi móc nối người làm việc cho thằng địch, ông ta chỉ còn một con đường duy nhất để đi. Đường lên nước thiên đàng!
Thật ra, những lời qua tiếng lại này không bỗng dưng mà có. Nó có, là do công lao xây dựng, tổ chức lâu dài với những chủ đích riêng của nhà nước. Những lúc gần đây, cán bộ đảng viên của nhà nước ở khắp nơi trên đất bắc, bỗng nhiên thất nghiệp. Thất nghiệp là vì lẽ, phú nông địa hào đã rủ nhau đi đợt một. Kế đến, một mớ trung nông, tá điền theo đóm ăn tàn đã ngửa cổ chịu chết trong đợt hai. Nếu không có đợt ba thì họ chẳng có gì để làm! Tuy nhiên, việc giết người qúa tay này đã làm rúng động toàn đất bắc và đẩy đất bắc vào cuộc tang chế, kinh hoàng chưa bao giờ có trong lịch sử. Nên nhà nước không thể tổ chức đấu tố được nữa. Thay vào đó là kế sách sửa sai để xoa dịu dư luận quần chúng.
Thật ra, việc sửa sai chỉ là manh áo lừa dối hào nhoáng để che mắt nhân dân. Bởi lẽ, nhà nước Việt cộng đã không thể lôi cổ Hồ chí Minh và Đặng xuân Khu là hai tên đồ tể trong chính sách đấu tố tàn bạo này ra tước tòa án nhân dân. Nên phải thay vào đó là các bài bản sửa sai cho có lệ và đẩy mũi dùi tấn công, phẫn uất của đồng bào ngoài bắc sang một mục tiêu khác là, đánh những kẻ có liên hệ với thằng địch ở trong nam và kết àn đây chính là thành phần phá hoại chính sách cải cách ruộng đất của nhà nước. Yêu cầu này về cơ bản, hoàn toàn có lợi cho nhà nước, hơn thế, còn tạo ra công ăn việc làm cho các đoàn đảng viên và các cơ sở cục bộ của đảng.
Ai cũng biết, chuyện di cư vào nam giống như một mũi dao nhọn, càng ngày càng thọc sâu vào tử huyệt của nhà nước Việt cộng. Nó là một nhức nhối, không phải chỉ trên bề mặt tuyên truyền, nhưng còn là một xỉ nhục lớn cho cái tập đoàn lãnh đạo của cái nhà nước xã hội chủ nghĩa này. Từ đó, sách lược nào của nhà nước cũng đều gặp trờ ngại và bị nghi ngờ vì nhân dân luôn hướng mắt vào những cuộc di cư tìm tự do ở miền nam. Hồ biết rõ chuyện này, Y đã tính diệt gọn những thành phần có liên hệ với miền nam và tôn giáo trước khi làm cuộc đấu tố cải cách ruộng đất. Nhưng trước tai mắt quốc tế dòm ngó, Hồ phải giả ngậm qủa bồ hòn, nhẹ tay.
Trong khi đó, chỉ sau mấy tháng cầm quyền, nhân dân trên toàn đất bắc đã nhìn ra cái bản chất thật của tập đoàn lãnh đạo của nhà nước Việt cộng. Chúng luôn luôn đẩy nhân dân vào những mâu thuẫn cục bộ để trục lợi, để nắm lấy quyền lực. Chúng không bao giờ muốn để cho nhân nhân có được cuộc sống bình thường, có cơm no áo ấm, có học hành và có đạo đức. Bởi vì, nếu nhân dân được hưởng một đời sống hòa bình và tự do, có luật pháp, có luân lý có đạo đức xã hội, không bị áp bức thì Hồ chí Minh đã bị treo cổ lâu rồi, cần gì phải chờ đến hôm nay!
Riêng tại Xuân Thủy, ngay sau ngày cánh cửa di cư vào nam đóng lại, ông Đăng đã là một trong những ngưòi được công an nhà nước ưu ái mời đi hỏi cung nhiều lần. Lần nào nhà nước cũng khuyến cáo ông nên thành khẩn khai báo, và trả lời những câu hỏi đại loại như:
- “Con ông hiện ở đâu? Nó đổi tên là gì và đang giữ chức vụ nào trong quân đội hay chính quyền của thằng địch? Nó có thường liên lạc về nhà hay không? Rồi những khi nó liên lạc về nhà, nó đã nói những gì?”
Những câu hỏi này ông Đăng đã thuộc lòng, nhưng không một lần nào ông tìm ra câu trả lời. Lý do, hai câu đầu, cả ông lẫn cán bộ nhà nước đều không biết. Riêng câu hỏi sau, nhà nước biết rõ hơn ông. Chả có một lá thơ nào Thông gởi về cho ông bà Đăng mà không qua bàn tay kiểm soát của Việt Cộng. Tuy thế, cán bộ vẫn thích hỏi ông. Ông không trả lời được là phạm tội đồng lõa với thằng địch!
May cho ông, giữa lúc lúng túng chưa biết trả lời ra sao, vụ đấu tố phú nông địa hào nổ ra. Nó buộc các cán bộ nhà nước phải dốc toàn lực vào công tác đặc biệt này. Nhờ đó, ông Đăng dễ thở đôi chút. Đến hôm nay, cuộc đấu tố mới tạm nghỉ tay. ông Đăng lại nhận được lệnh mời. Khi được mới, ông không ngạc nhiên, chỉ khó hiểu về cách mời. Họ đến, thông báo cho ông giờ giấc đến trình diện công an Xuân Thủy, thay vì gởi giấy như những lần trước.
Lúc nghe được lệnh mời, ông Đăng thấy lòng bất an. Nhưng không muốn cho vợ con nhìn thấy dấu lệ trên viền mi, ông vội đi về phía sân sau nhà, nhìn trời, nhìn đất. Ai ngờ, khi đến bên cái chuồng trâu, nhìn cảnh màn giăng nhện bám, lòng ông thêm héo úa.
Nhớ lại những ngày trước mùa phân chia đất nước, cái chuồng trâu nhỏ bé này đã cho ông nhiều phấn khởi. Phấn khởi vì ngoài việc nó cung cấp cho ông một số phân xanh cần thiết, nó còn cho đôi mắt và lỗ tai của ông lắm niềm vui mỗi khi ông nhìn thấy con nghé nhảy những bước chân non trong chuồng, rồi rúc đầu vào cái vú căng sữa của con trâu mẹ. Tiếc thay, niềm vui và hạnh phúc của ông chỉ vụt bừng lên giống như ánh nắng chiều, vụt loé sáng lên sau cơn mưa, không đủ làm cho khô manh áo ướt đã lại tắt lịm đi vì bóng đêm và giông bão ập đến.
Sở dĩ ông Đăng chỉ có được niềm vui ngắn ngủi sau ngày được gọi là hòa bình như thế là vì, ngay sau khi Hồ chí Minh làm hàng rào, khóa cửa con đường di cư vào nam lại, rồi mở ra chính sách cải cách ruộng đất, đấu tố toàn bộ phú nông địa hào, là thành phần nòng cốt che dấu và nuôi sống những cán cộng Việt Minh trong những năm còn hoạt động trong bí mật. Tưỡng cũng phải nói một câu công bằng là, nếu không có thành phần này tham gia, góp công góp của, góp xương máu, che dấu và bảo vệ cán cộng trong cuộc chíến thì những cái tên như Hồ chí Minh, Phạm văn Đồng, Đặng xuân Khu, Trần Quốc Hoàn, Lê đức Thọ, Lê Duẩn…. đã chết mục mả lâu rồi, làm gì còn có mặt cho đến ngày chúng mở cuộc đấu tố nhân dân, làm ông Đăng cũng như toàn bộ nhân dân trắng tay, trắng mắt. Ông trắng mắt trước những mục đích to nhớn của cuộc cải cách:
- Thứ nhất, nhà nước muốn thu gọn toàn bộ tài sản, đất đai của nhân dân của đất nước vào trong tay một đảng cộng sản.
- Thứ hai, tạo cơ hội cho nhân dân tham gia trò chơi đấu tố để họ tự ý...giết chết tình người, đạp đổ nền luân lý đạo đức và truyền thống văn hóa nhân bản của dân tộc Việt.
- Thứ ba, vẽ ra con đường một chiều, mà trên đó, cách đi đứng, cách ăn nói, lề lồi sống đều rập khuôn theo khuôn mẫu vô gia đình vô tôn giáo và vô tổ quốc của cộng sản đề ra.
Kết qủa, nhà nước, đảng Việt cộng thắng lớn, phần nhân dân miền bắc thì dở sống dở chêt. Riêng ông Đăng, sau khi từ buồng công an Xuân Thủy bước ra, ông đã là một trong những người đầu tiên tự biết mình có... lỗi với nhà nước. Ông về nhà, bàn với bà Đăng, sau đó, áp dụng kế sách lấy của đi thay người như cán cộng hướng dẫn.
Theo sách lược này, ông Đăng phải làm giấy dâng hiến toàn bộ tài sản của gia đình ông bao gồm: hai sào ruộng nước, một con trâu cái, một con nghé sáu tháng và một dàn bừa cho nhà nước. Thêm vào đó, ông cũng không quên... dâng cho nhà nước chính khu nhà ông đang cư ngụ. Khu thổ cư này rộng gần bốn trăm mét vuông đất, trên đó xó một căn nhà ba gian, một cái bếp và cái chuồng trâu. Theo bản văn hiến dâng tài sản của ông Đăng, nhà nước hân hoan đến tiếp quản toàn bộ tài sản của ông. Tuy nhiên, vì thiếu người quản lý, nhà nước đã giao khu nhà ở cho ông Đăng trông coi. Ông không được tự ý hưởng huê lợi từ mấy cây mít và hàng cau quanh nhà.
Khi biết mình trắng tay, bà Đăng rầu rĩ đi ra đi vào tiếc của khóc mếu. Riêng ông Đăng, ông đã can đảm khuyên bà bằng những lời lẽ sắc bén:
- Bà chả nên buồn vì kế lấy của đi thay người. Hơn thế, bà nên chạy ra đường mà reo mừng lên. Mừng vì từ đây, gia đình ta đã được liệt kê vào thành phần vô sản, một thành phần căn bản của xã hội. Theo đó, từ đây tôi sẽ đứng chung trong hàng ngũ lãnh đạo đảng và nhà nước với bác. Như thế, bà thử nghĩ xem, còn một vinh dự nào to nhớn hơn không?
Dù chẳng tin nhời ông lý luận, bà Đăng cũng không có con đường giải quyết khác. Bà đành cười gượng làm vui hơn là hờn dỗi ông. Bởi vì cùng nằm trong trường hợp bị án treo như ông Đăng, có người bị khủng hoảng, không dám sống trong nỗi kinh hoàng ám ảnh mỗi ngày. Họ đã thắt cổ mà chết. Lại có kẻ ra điên thành dại. Riêng ông Đăng, ông phải lập kế giả câm giả điếc. Bởi vì, chính ông đã nói nhỏ với bà Đăng rằng: Ông cần phải sống. Sống để nhìn thấy cuộc cờ đổi thay.
- Cuộc cờ đổi thay!
Ông Đăng tự chép miệng, ngước mắt lên nhìn trời. Nghĩ đến cuộc cờ đổi thay mà lòng ông xe thắt. Lý do, từng tấc đất, từng cọng rau đến ngọn cỏ dại đang gợi lên trong lòng ông sự bồi hồi, sao xuyến. Một sự sao xuyến hầu như không bao giờ có ở trong ông. Ngay lúc Thông và hai người con của ông lên đường, vợ ông ngồi khóc như cha chết, ông vẫn bình thản như không có gì xảy ra. Nhưng hôm nay, ông đã rơi nước mắt khi dừng lại bên cái lưỡi cày vất ở góc vườn.
Thật ra, cái lưỡi cày này chỉ là một vật vô tri. Nhưng từ ngày xưa nó được coi như là người bạn thân thiết chả mấy khi rời xa ông. Nó thường chiếm một vị trí khá tốt trong lòng ông và trong mái hiên đầu nhà. Đến lúc gần đây, trâu không còn, nó giống qủa chanh đã vắt hết nước. Nó mất chỗ đứng trong mái hiên, lại phải ra nằm đội nắng phơi mưa ở giữa trời, và để cho giây cỏ dại leo lên quấn ngang mình. Nhìn cảnh giậu đổ Bìm Bìm leo, ông chán nản nghĩ đến phận mình. Liệu ông có giống như cái lưỡi cày bị vất vào góc vườn này hay không?
Cả ngày ông luẩn quẩn với câu hỏi và chẳng tìm ra câu giả nhời. Đến khi ngồi bên mâm cơm chiều, lòng thổn thức bỗng dâng lên nghẹn cổ, ông tính thông báo cho bà Đăng và cho con gái biết tin về việc được mời lên công an làm việc, nhưng lại yên lặng, ăn cho xong bữa cơm.
Cơm nước xong, Hồi đi họp tổ sản xuất, bà Đăng một tay cầm cái tăm, một tay bưng bát nước bước ra cửa. Bà ngậm hớp nước chè nóng, súc ùng ục mấy cái trong miệng rồi nhổ toẹt xuống trên sân đất. Khi quay vào, bà thuận tay khép chặt lại cái cánh cửa, đến ngồi trên cái chõng đối diện với ông. Bà rót thêm cho ông và cho bà lưng chén nước, sau đó, mở hộp trầu, lấy miếng cau cho vào miệng nhai trước trong lúc tay bắt đầu quyệt vôi trên lá trầu. Thấy ông Đăng vẫn một mình một bóng co ro bên cái điếu, bà thắc mắc hỏi ông:
- Sao hôm nay ông lặng lẽ thế?
Chả biết nghĩ gì, ông Đăng trả lời:
- Tôi lặng lẽ lắm à?
Bà Đăng nguýt chồng:
- Ông hỏi đến hay!
Thay vì trả lời, ông Đăng châm lửa vào đầu cái đóm rồi từ từ hạ thấp đốm lửa xuống trên cái nõ điếu. Phía bên kia cái điếu, bà Đăng cũng cầm que vôi, quyệt sẵn vào đầu ngón tay trỏ chút vôi. Chờ khi nhai dập miếng trầu, bà sẽ cho thêm tý vôi và bi thuốc lào vào miệng, cho miếng trầu thêm đậm đà.
Nếu như không có chuyện giải phóng, cũng không có chuyện xã hội chủ nghĩa và chính sách đấu tố của Vẹm. Những hình ảnh tuy đơn sơ, mộc mạc này, dư sức làm cho người dân quê cảm nhận được cái hạnh phúc sau một ngày cực nhọc trên cách đồng. Tuy nhiên, thực tế lại khác. Từ lúc Việt Minh về và sau này là mùa đấu tố. Người dân quê trên đất bắc không còn cái may mắn để ngồi nhắc, nhớ lại những câu chuyện ngày mùa với hương thơm gạo mới, với tiếng cười đùa của lũ trẻ thơ nữa. Thay vào đó là cảnh vợ chồng ngồi bó gối, trắng mắt nhìn nhau, con ruồi đậu trên mặt cũng không buồn đuổi.
Trong bối cảnh đó, sau khi nhả khói thuốc, bỏ cái xe điếu xuống trên bát điếu. Ông Đăng kín đáo quan sát bà, rồi đột nhiên bảo:
- Này bà, nếu một ngày nào đó chúng mời tôi đi và không được về...
Bà Đăng giật nẩy mình, căng đôi mắt lên nhìn ông, gịong đầy trách móc:
- Hôm nay ông ăn nói đến hay nhỉ? Từ nãy thì ngồi như ngậm thóc, gìơ lại buông ra lời nói gở.
Ông Đăng thở dài thườn thượt:
- Có lẽ không gở lắm đâu bà ạ. Từ lâu tôi biết chắc thế nào cũng phải đi, nhưng không dự đoán được là bao lâu và vào thời gian nào mà thôi.
Bà Đăng không đồng ý, gạt phăng đi cái tư tưởng yếm thế của ông:
- Ông chỉ khéo lo!
Ông Đăng bảo:
- Chẳng ai muốn đeo khổ vào người. Nhưng cái khẩu lệnh ngày mai tôi phải lên công an trình diện, chắc không phải là chuyện trò chơi?
Bà Đăng trố mắt nhìn ông:
- Họ đến khẩu lệnh cho ông bao giờ?
- Mới sáng nay.
- Tại sao nó không gởi giấy mời như những lần trước?
- Chuyện chúng làm có đến Giời cũng chẳng biết!.
Vừa nghe xong câu trả lời, bà Đăng hiểu toàn bộ những lý do khiến ông thẫn thờ từ sáng tới giờ. Bà buột miệng:
- Chẳng lẽ chỉ vì một bữa ăn.
Ông Đăng chậm rãi cắt nghĩa cho bà:
- Không phải như thế, bữa giỗ chẳng là cái gì trong cái ly đã tràn nước. Theo tôi nghĩ, cái diện như mình chính ra đã bị đánh trước khi có chính sách đấu tố phú nông địa hào. Nhưng lúc ấy, vì sợ tai mắt quốc tế còn nhiều, nên nhà nước chỉ vờ làm công tác gọi là kiểm tra nhân sự. Lúc này mới là lúc thuận lợi để họ ra tay. Ngưng lại một chút, ông tiếp:
- Bà cũng biết đấy, cuộc cải cách, chém giết dã man, đã gây ra sự công phẫn lớn trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó, chúng bó buộc phải nghĩ đến việc tạm ngưng thi hành rồi tìm cách đánh lạc hướng nhân dân. Dịp may đã đến, nhân lúc có nhiều nguồn tin, thật hư chưa ai biết, đều nói đến việc trong nam bắt đầu gởi cán bộ ra ngoài này hoạt động, nhà nước liền dùng kế mượn gío bẻ măng. Nghĩa là, họ sẽ tuyên truyền và tạo ra dư luận mới. Tiếng là để bảo vệ an ninh cho tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhưng thực ra, họ muốn tiêu diệt tận gốc rễ những thành phần họ cho là nguy hiểm để khỏi di họa về sau. Theo đó, diện như mình, khó thoát khỏi bàn tay của họ, và việc tôi phải đi chỉ là trong sớm tối!
Ông Đăng nói một hơi khá dài, giọng chắc như đinh đóng cột làm bà Đăng thêm hoảng hốt. Nhưng theo kinh nghiệm bản thân, bà không lên tiếng trách
Bất ngờ ông Đăng gắt gỏng:
- Bà bé mồm bé miệng một tý có được hay không? Than thở như thế có ích lợi gì? Lúc này là lúc nghiêm trọng, không thể thờ ơ trước mọi ngoại cảnh được. Bà nên lưu tâm, để ý tới đôi lời dặn dò của tôi.
Bà Đăng nhìn chồng không chớp mắt. Mấy chục năm trời chung sống với nhau, chưa bao gìơ ông gắt gỏng và nói với bà một câu nghiêm trọng như thế. Bà buồn lòng, nhổ miếng trầu đắng chát ra khỏi miệng, đưa mắt nhìn ra trời đêm. Tiếng nói mất tự chủ:
- Nếu ông phải đi, mẹ con tôi có sống cũng bằng không. Cần chi lời dặn dò...
Bà ngập ngừng, giọt nước mắt vội lăn trên gò má rồi lăn xuống đôi tay. Ông Đăng trông thấy. Ông không trách bà mau nước mắt, chỉ buồn cho quãng đời đen tối. Sau một lúc im lặng, ông lên tiếng trấn an bà:
- Tuy thế, bà chả nên lo lắng thái qúa. Sống chết là do mệnh trời, không do con người. Và nếu tôi đã giống con cá vướng lưới hoặc đã nằm trên thớt, bà cần phải can đảm mà sống. Sống để lo cho chúng nó. Con Hồi, thằng Thông, thằng Phú, thằng Nhân không thể thiếu bà khi đã mất tôi.
Mới nghe ông nói được vài câu, bà Đăng đã kéo vạt áo lên lau mặt. Ông Đăng tê tái, ông không đủ can đảm nói thêm. Lát sau, ông đứng dậy, thở dài:
- Tôi chỉ dặn hờ bà như thế thôi. Nếu tôi không phải đi, việc của chúng nó, tôi có phương cách giải quyết. Trái lại, bà nhớ thay tôi mà lo cho chúng.
Bà Đăng ngồi bất động, lỗ tai lùng bùng. Phần ông Đăng, sau khi dặn bà vài câu, ông bước ra cửa. Bà Đăng nom thấy vội lên tiếng:
- Tối rồi, ông ra ngoài làm gì cho sương xa nó xuống.
Ông Đăng quay lại:
- Tôi định sang thăm ông bà ta một tý.
Bà Đăng bước theo ra cửa, nhìn trời:
- Khéo mà trễ qúa rồi, mai hãy đi.
Ông Đăng bước xuống sân:
- Trễ cũng phải đi. Bà ở nhà, tôi sẽ về ngay...
Cùng trong thời gian đó, ông bà Lục không dấu nổi sự lo âu trước bản tin mỗi ngày một lan rộng và bất lợi cho ông Đăng. Có lúc ông đã chép miệng, đấm ngực than thở, hối hận về việc không mời Bảng ở lại để gây ra rắc rối lớn. Riêng bà Lục, tuy kém vui, nhưng cương quyết gạt bỏ ý kiến của ông:
- Cho nó ăn cũng thế, không cho nó ăn cũng vậy. Nó muốn bới lông tìm vết thì thiếu gì cách, cần gì phải có bữa ăn.
Ông Lục trả lời:
- Đành rằng thế, nhưng có lẽ không nên gìa néo bà ạ.
- Ông lại sợ đứt giây để cho nó trèo lên đầu lên cổ mình hay sao?
Thay vì trả lời câu hỏi, ông Lục lại hỏi bà sau khi đẩy hơi khói ra ngoài:
- Về việc thằng Dụng và con Mễ bà tính sao?
Bà Lục dương đôi mắt nhìn ông:
- Ông hỏi như thế là có ý gì?
Tiếng ông Lục đục khàn:
- Nào có ý gì khác ngoài việc muốn biết ý kiến của bà. Nếu phải chọn một trong hai, bà sẽ chọn cách nào?
Giọng bà Lục cất cao trong đêm tối:
- Ông đến là lẩn thẩn. Con không chọn lại đi chọn con trâu!
Trả lời xong, bà Lục tự biết có phần vô lý khi đặt ngược vấn đề với ông. Lý do, bà chưa biết rõ đầu đuôi câu chuyện ra sao lại thấy ông ngồi trong tư thế hai tay ôm chặt lấy cái đầu gối, mặt đầy nét ưu tư. Bà liền hỏi:
- Chúng nó định bắt thằng Dụng hay là con Mễ? Sáng nay ông lên ủy ban, chúng có nói gì không?
Trong lúc ông Lục bưng chém nước trà nóng lên ngang miệng để làm kế hoãn binh, bà Lục lại nóng nảy nói toáng lên:
- Không thể lép vế như thế được. Ông phải ra và bảo cho chúng biết, gia đình này là gia đình liệt sỹ của nhà nước. Cán bộ đã không lo lắng đến đời sống của mình thì thôi, có đâu lại ra tay chèn ép người có công.
Ông Lục ngắt lời bà:
- Bà đến là lắm nhời! Ai không biết cái khoản liệt gân liệt cốt của bà. Nhưng sống ở chốn đồng hoang dã thảo, sống dưới thời việt cộng, bà đào đâu ra luật lệ? Luật lệ là con dao của chúng. Chúng muốn nói gì, muốn làm gì tùy thích thì bà bảo sao?
Nghe hỏi ngược, bà Lục không chùn bước. Hơn thế, bà có phản ứng giống như người sắp lâm chiến. Bà đánh xèng hai bàn tay trước mặt một cái rồi kéo thốc cánh tay áo lên cao:
- Ông hỏi đến là ngớ ngẩn. Bộ nhà nước này không có luật pháp và ngoài cái ủy ban Xuân Thủy này ra, không còn một nơi nào khác để ông đến khiếu nại hay sao? Ông tính để mặc cho cái bọn ăn cướp ấy muốn làm gì thì làm à?
Ông Lục xưa nay là người vốn không thích chiến tranh. Ông thường có khuynh hướng, bà bảo sao ông nghe vậy hơn là việc lời qua tiếng lại với bà. Nhưng tối nay, khi bà to tiếng, ông sợ chuyện bức vách có lỗ tai. Ông đã không ngần ngại phá vỡ quy luật có từ ngày cưới vợ. Ông nói át:
- Bà bé mồm một tý có được hay không? Thời buổi này toàn là tai vách mạch rừng. Không phải dễ sống đâu.
Bà Lục há miệng, kinh ngạc trước thái độ cứng rắn khác thường của ông. Nhưng chỉ sau vài giây, bà lấy lại bình tĩnh và quyết vùng lên thay vì chấp nhận phương cách im hơi lặng tiếng, xuôi chiều lép vế giống như ông:
- Không sống thì chín. Ông ra bảo cho chúng nó biết, nếu động đến tôi là tôi úp... váy vào mặt đấy. Đừng có tưởng con mẹ gìa này chịu nhịn chúng mãi đâu.
Trước cảnh lên đồng của bà, ông Lục đành ngồi im. Phần bà, bà chưa hả cơn giận. Bà đứng dậy, một tay kéo cái váy lên cao trên đầu gối, một tay chỉ thẳng ra phía đầu ngõ:
- Được! Đã đến nước này thì lành làm gáo, vỡ làm môi. Sáng mai tôi sẽ lên thẳng ủy ban để hỏi xem chúng muốn gì cho biết.
Thấy bà hăng qúa mức dự trù, ông Lục bó buộc phải hạ giọng:
- Bà chỉ hay nóng nước đỏ gọng. Đã không giải quyết được gì lại mua thêm rắc rối vào người.
Nghe chồng không có ý về phe với mình, bà Lục giận dỗi, ứ hự một tiếng trong cổ rồi xách ấm nước vào trong nhà. Ông Lục ngồi một mình mất hứng khởi, cũng đứng lên, cầm cái điếu đi vào theo. Vừa bước vào và chưa kịp ngồi xuống trên cái chõng, đã nghe có tiếng gọi cửa. Hai ông bà giật mình nhìn nhau:
- Ai gọi cửa nhà tôi đấy?
- Tôi đây ông bà ạ.
Nghe giọng nói quen thuộc, bà Lục vội đi ra mở cửa. Bà không dấu được sự ngạc nhiên khi mời khách vào nhà:
- Mời ông vào chơi, uống bát nước. Bà có khỏe không ông?
Tiếng bà chưa dứt và ông Đăng cũng chưa ngồi xuống ghế, lại có tiếng gọi cửa khác. Cả ba cùng đánh thót người.
- Ông bà Lục có nhà không?
Nghe hỏi, ông bà Lục bụng bảo dạ:
- Thế này là chết cửa tứ rồi. Ông ấy đi một bước là chúng theo một bước. Ông ấy nói một nhời là chúng thu vào máy. Rõ khổ!
Than xong, ông bà Lục nhìn nhau lộ rõ nét ái ngại vì sự có mặt của ông Đăng vào thời điểm này. Không mở cửa cho Bảng thì không được, mà mở sẽ có bao nhiều điều phiền phức kế tiếp. Thật là hoạ vô đơn chí. Lưỡng lự một lúc, bà Lục đành lên tiếng:
- Đêm hôm ai đến gọi cửa nhà tôi có việc gì đấy?
Tiếng nói từ ngoài vọng vào mãnh liệt hơn:
- Tôi đây, tôi là chủ nhiệm Bảng đây.
Ông Lục trở ra, cánh cửa vừa hé đã thấy hình bóng chủ nhiệm Bảng oai phong đứng sừng sững trước cửa nhà. Ông Lục cố gắng niềm nở:
- Ông chủ nhiệm lại nhà, mời ông vào uống bát nước.
Nghe câu mời lơi, chủ nhiệm Bảng thấy ứa gan. Khi có con gà đĩa xôi, gã không hề nghe được một câu mời. Lúc này, cần gì phải mời với mọc. Tự nghĩ thế, Bảng bước vào khi ông Lục đứng né sang một bên. Thấy Bảng vào, ông Đăng, người khách vừa đến trước gã vài bước vội lên tiếng chào. Bảng giật mình quay sang, trả lời đáp lễ và không quên nhìn gia chủ và người khách bằng đôi mắt đầy nghi ngờ và bất thiện cảm. Gã kéo ghế vào đề:
- Sao ông bà đã nhất trí chưa?
Bà Lục chưng hửng chưa hiểu chuyện gì, lại khó chịu trước thái độ và giọng nói trịch thượng của Bảng. Bà sẵng tiếng:
- Ông chủ nhiệm bảo nhất trí, nhất trí về cái khoản gì?
Nguyễn văn Bảng vờ ngạc nhiên nhìn bà Lục trong lúc một tay gã đưa ra, cầm lấy xáp thuốc lào của gia chủ, một tay còn lại kéo cái điếu vế phía gã:
- Té ra ông nhà chưa đả thông cho bà cái phương án đã được đề quyết với ông tại văn phòng ủy ban sáng nay hay sao?
Bà Lục toan lên tiếng, nhưng lại thôi. Bảng ăn vội điếu thuốc, nhìn về phía ông Đăng nhả khói:
- Kể ra thì gia đình của ông bà là gia đình liệt sỹ của nhà nước. Một gia đình được xếp vào diện ưu tiên nằm trong chính sách đãi ngộ đặc biệt của đảng. Theo chính sách này, cán bộ, nhân dân ta phải hết lòng hết sức bảo vệ, chăm lo đến đời sống của ông bà. Tuy nhiên, trong hiện tình của nhà nước còn gặp nhiều khó khăn, đảng đã kêu gọi toàn thể nhân dân hãy khắc phục thêm một thời gian nữa. Kế đến, như ông bà đã biết. Trong lời kêu gọi ấy, đảng đã nhắm và ra sức vận động những gia đình nằm trong hàng ngũ gia đình cách mạng, phải làm gương đi tiên phong trong các chính sách của nhà nước để cho quần chúng soi gương. Thí dụ như, khi chính sách cải cách ruộng đất và đấu tố ra đời. Ông bà phải mau mắn hồ hởi, phấn khởi hiến dâng tài sản và tích cực tham gia công tác đấu tố những thành phần... xấu.
- Thứ đến, khi nhà nước mở hợp tác xã. Ông bà phải biết đi tiên phong, xin gia nhập để mở đường cho quần chúng nhân dân nối gót. Rồi khi con cái đến tuổi thi hành nghĩa vụ quân sự. Nhiệm vụ chính yếu của ông bà, phải động viên chúng hăng hái thi hành để được cái tiếng là người biết lo lắng đến sự an nguy của tổ quốc.
Bảng dừng lại, có ý thăm dò phản ứng của ông bà Lục. Thấy ông bà Lục ngồi im bó gối, gã tin chắc câu chuyện đồn thổi bên ngoài, rất có lợi cho câu chuyện của gã tối nay. Gã liền tranh thủ thời cơ:
- Đó là cơ sở trên phương diện lý luận. Tuy nhiên, đảng đã có chỉ thị. Các cấp bộ địa phương được tùy nghi vận dụng sáng tạo trong việc thi hành chính sách của nhà nước để đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Do đó, sau nhiều cuộc thảo luận sôi nổi của chi bộ. Toàn thể cán bộ trong chi bộ đã có đánh gía thực tiễn về hiện tình của ông bà. Chi bộ đề quyết chỉ xét về mặt tình, không nói đến lý lẽ như sau:
- Thứ nhất, gia đình ông bà không còn lao động chính. Ủy ban quyết định miễn cho thằng Dụng không phải đi thi hành nghĩa vụ quân sự.
- Kế đến con trâu. Ông bà đã biết ở dưới chế độ ưu việt của ta, không một người nào có quyền có tài sản riêng. Do đó, ông bà phải làm đơn hiến cho nhà nước để làm tài sản chung. Riêng sào ruộng cấy lúa của ông bà, nó đã nằm sẵn trong cánh đồng hợp tác của nhà nước. Ông bà chỉ cần làm cái giấy xin gia nhập là được chấp thuận ngay. Ngưng lại một chút, Bảng phân bua:
- Đấy ông bà xem, quyết định của ủy ban rất rõ ràng và rất hợp tình hợp lý, ông bà chả nên nghi ngờ lòng tốt của nhà nước. Đã thế, ông bà không nên ỷ nại vào cái khoản tình cảm riêng tư của ủy ban, để kéo dài thời gian thi hành. Sự kéo dài này, dĩ nhiên không có lợi cho ông bà. Trái lại, đó là tai họa lớn. Bởi vì, ông bà có thể bị nghi ngờ là người đã liên hệ với thành phần xấu, đã có chủ đích chống lại chính sách của nhà nước. Một khi bị nghi ngờ, ông bà đã rõ, phép nước bất vị thân.
Lửa giận tự dưng bốc lên đầu, bà Lục không cần giữ ý tứ:
- Cứ như nhời ông chủ nhiệm vừa phát biểu, không biết những người thuộc diện gia đình liệt sỹ như chúng tôi sẽ được ăn cái giải gì?
Bảng há mổm thả khói:
- Ăn cái giải gì à? Tại sao bà phát biểu linh tinh như thế? Há bà không biết, khi phát biểu như thế là bà cố tình tạo cơ hội cho kẻ địch chống đối đường lối quang minh của nhà nước hay sao? Bà nhớ rằng, việc phải tham gia các chính sách của nhà nước đẻ ra là một bổn phận. Còn sự kiện được nhà nước đền ơn đãi ngộ, chỉ là một đặc ân. Hai việc này không thể kéo cưa qua lại được.
Bà Lục vốn là người dân quê, thấy trắng bảo trắng, đen bảo đen. Bà không thích và cũng không muốn nghe kiểu lý luận vòng quanh. Bà lớn tiếng:
- Vậy tôi có nhời hỏi lại ông chủ nhiệm. Làm liệt sỹ như tôi được những đặc ân gì?
Bảng lại cười:
- Đến bây giờ bà vẫn không biết được nó là cái đặc ân gì à? Tôi nói cho bà nghe nhá. Bà được cái bảng tuyên công, được cái danh vị là gia đình liệt sỹ, và đặc biệt, được cả nước gọi bà là mẹ của cách mạng, là mẹ của chiến sỹ. Được bấy nhiêu thứ, bà còn muốn gì nữa?
Bà Lục nóng tiết, trả đũa:
- Xin lỗi ông chủ nhiệm. Nhà tôi không cần mấy cái danh vị hão huyền ấy. Vì nó không thể đem ra mà ăn thay cơm gạo được.
Bảng gạt phăng câu nói của bà:
- Sao bà lại dại dột phát biểu như thế? Bà có biết nói như thế là... là có lỗi với nhà nước, là làm đau lòng bác hay không? Bà nên nhớ, nếu nhà nước chưa đền ơn đãi ngộ sứng đáng cho những gia đình có công, không phải là do sự kiện ăn cháo đái bát của nhà nước, nhưng vì hoàn cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn. Há bà không nghe, chính bác vô vàn kính yêu đã dạy:” Đất nước có đi vào con đường xã hội chủ nghĩa lẫy lừng như hôm nay là do công lao của những người đã hy sinh. Do đó, Bác có cởi áo của mình ra để đền ơn cho họ vẫn chưa sứng.
- Đấy bà xem, bác có hai cái áo, bác cũng muốn cởi ra một cái để đền ơn cho bà. Bác có một cái quần cũng muốn cởi ra để trả nghĩa cho những góa phụ trẻ và cô nhi chưa chồng. Nhưng vì hoàn cảnh, bác chưa làm được. Tuy nhiên, bác còn sống và nhời thật của bác còn đó. Ai dám nuốt nhời của bác? Lòng bác thì bao la như thế, bà đã không chịu hiểu, không chịu thông cảm cho bác, cho nhà nước, lại còn nói ra nói vào những lời làm tổn thương tình nghĩa thắm thiết giữa đảng và những gia đình có công. Bảng chắt lưỡi:
- Thật, nhắc lại câu bà vừa phát biểu chỉ thêm buồn. Buồn vì người ngoại cuộc không hiểu vấn đề, họ sẽ đánh gía sai nhầm là gia đình ta để mất quan điểm cách mạng, và làm rơi lập trường của giai cấp đấu tranh. Buồn vì ta xơ hở để chúng tưởng nhầm là nhà nước bóc chanh bỏ vỏ, hay chỉ nói chuyện ốc đi bằng mồm. Buồn vì nó trở thành cơ sở lý luận cho kẻ địch lợi dụng phá hoại nhà nước. Và buồn vì còn hàng trăm thứ lý do khác tôi không tiện nói ra. Nhưng thôi, Bảng khuyên nhủ bà Lục:
- Bỏ câu chuyện dĩ lỡ ấy đi ông bà ạ. Gia đình ta đã có công nhớn với cách mạng, ta không nên vì một con trâu, vì một nhời nói để trở thành những người đối địch với nhau. Có phải thế không ông?
Chẳng hiểu nghĩ gì, sau khi đã nghe lời khuyên nhủ của Bảng. Bà Lục thay vì lấy bút giấy ra viết lá đơn hiến dâng tài sản cho nhà nước, lại không rằng không nói, đứng dậy đi thẳng vào trong buồng. Lát sau, bà trở ra với một cuộn giấy cuốn tròn trong tay. Bà ném mạnh một cái, cuộn giấy lăn tròn trên bàn, ngay trước mặt chủ nhiệm Bảng. Bà chua chát:
- Báo cáo ông chủ nhiệm. Xét theo lời ông vừa dạy bảo, tôi tự biết không sứng đáng và không dám nhận cái ơn lớn ấy. Vậy, nhân tiện có mặt ông ở đây, tôi xin gởi trả lại ông cái mảng giấy tuyên công này phỏng có được hay không?
Bảng há hốc mồm ra nhìn, bà Lục tiếp:
- Tôi xin trả lại cho ông, vì xét cho cùng, tôi còn giữ nó ở trong nhà ngày nào là còn chuốc lấy tai họa và thêm bực mình ngày ấy. Phiền ông chủ nhiệm... khiêng nó ra ngoài hộ tôi một cái.
Bảng xám mặt, gã hết nhìn cuộn giấy lăn trước mặt lại nhìn bà Lục. Ông Lục thấy tình thế căng thẳng. Ông đưa tay ra cầm lấy cuộn giấy, vờ can ngăn bà:
- Thôi, bà hãy đem cất nó đi. Có nóng nảy nhời qua tiếng lại với ông chủ nhiệm, đã không giải quyết được gì lại thêm mất lòng nhau. Riêng chính sách của nhà nước đã đề ra, và ủy ban đã rộng xét như thế, bà nên nghe nhời ông chủ nhiệm, từ từ mà tuân thủ. Có phải như thế không ông chủ nhiệm?
Bảng nổ đom đóm mắt nhìn ông Lục khi nghe hai chữ từ từ ông vừa nói. Hai cái chữ này chính Bảng đã nghe ông nói hàng trăm lần, nhưng ông ta chỉ muốn đánh trống bỏ dùi thay vì nghiêm chỉnh thi hành. Càng nghĩ Bảng càng giận. Giận vì ông bà Lục đã không nghe lời khuyên nhủ chí tình của Bảng. Giận vì ông bà Lục ỷ mình có mảnh giấy lộn ở trong tay rồi tát nước vào mặt Bảng trước sự hiện diện của ông Đăng. Rồi thêm giận vì ông Đăng cả gan ngồi chứng kiến cuộc chiến tương tàn này. Sau khi tự làm cho mình nóng mặt, Bảng xô ghế đứng dậy:
- Được! Ông bà đã có ý kiến như thế thì tôi xin kiếu, và sáng mai mời ông lên ủy ban để nghiên cứu lại phương án.
Ông Lục nhìn theo gót chân Bảng, đáp gọn:
- Phải!
Ra khỏi nhà ông Lục, Bảng đứng lại nhìn trời nhìn đất nhưng chưa biết phải đi đâu trong lúc lửa giận vẫn bốc lên ngùn ngụt. Lát sau, Bảng phanh ngực áo ra hóng gío, gã nhớ đến hình bóng đẫy đà của Lựu. Gã mỉm cười, quyết trở lại nơi mấy hôm trước gã đã thua cuộc trước mặt bí thư Thọ.
Trong khi đó tại nhà ông Lục, không khí ảm đạm không theo gót chân Bảng ra ngoài. Trái lại, nó tiếp tục đè mối ưu tư lên những mái đầu bạc. Ông bà Lục, ông Đăng chậm rãi nhìn nhau. Một lúc sau, ông Lục chép miệng nhắc lại câu than:
- Thật cây muốn lặng, gío chẳng ngừng!
Ông Đăng thận trọng bày tỏ ý kiến của ông sau khói thuốc:
- Tôi nói câu này, có lẽ là không phải...
Ông Đăng ngập ngừng, bà Lục chép miệng:
- Thật ra thì chuyện này cũng khó sử lắm ông ạ.
- Tôi cũng biết thế, nhưng khéo gìa néo qúa ông bà ạ.
Ông Lục nói toạc ra những uẩn ức của ông:
- Chẳng dấu gì ông, cái khoản ấy tôi biết rõ lắm. Nhưng tôi phải níu cứng như thế may ra mới giữ được thằng út ở nhà. Nếu không thì mất cả người lẫn của.
- Thật thế à?
- Phải!
Từ trước, ông Đăng đã biết ông Lục có những nỗi buồn thuộc diện khó giải. Tuy nhiên, ông Đăng lại chủ quan cho rằng: Không phải một mình ông Lục có con chết mất xác vì việt cộng, và cũng không phải chỉ có một mình ông bị dân làng hiểu nhầm, xa lánh. Trái lại, diện như ông ở Xuân Thủy không ít. Đến lúc này, sau khi chứng kiến cuộc tương tàn giữa nhà nước và người có công, ông Đăng mới sáng mắt, và biết ông nghĩ như thế là nhầm lớn. Nhầm vì sự kiện ông Lục bị nhà nước lừa đau hơn là nỗi buồn mất con.
Phần ông Lục, khi nhìn sang ông Đăng, ông thấy ái ngại. Ngại vì đã nông nổi, nghe lời xúi của vợ để mời ông bà Đăng sang ăn giỗ. Ngại vì đã thiếu suy nghĩ để lôi thêm một gia đình vào trong cái phiền não sẵn có của ông. Rồi ngại vì bản tin đồn, cho ông là người của Bảng đã cố ý gài ông Đăng vào tròng. Do đó, ông khổ sở dằn tất cả những u uẩn vào trong cái xe điếu. Khói thuốc làm ông ho lụ khụ:
- Thật, tôi có lỗi với ông bà và cháu gái bên ấy. Chính ra tôi không nên vội vàng để gây ra nhỡ nhàng cho ông bà và cháu.
Ông Đăng hiểu ý, trả lời:
- Ông chả nên nghĩ thế. Con cái tới tuổi trưởng thành thì mình lo cho chúng, nên hay khõng là do duyên trời. Còn chuyện của xã hội, biết đâu mà lường.
Bà Lục lấy lại tự chủ:
- Ông nói nhời nói phải. Đời người là dài, cách mạng của chúng nó thì được mấy nỗi. Nếu được ông bà thương đến cháu, tôi chả tiếc gì sào ruộng và con trâu.
Ông Đăng tiếp lời:
- Nói cho ngay thì hạnh phúc không nằm trong con trâu và miếng vườn bà ạ. Như tôi với ông bà, khi ra lập nghiệp làm gì có ruộng có vườn, nhưng cũng có ngày hôm nay.
Ông bà Lục tươi nét mặt:
- Phải...
Khi rời nhà, ông Đăng có ý định sang thăm ông bà Lục rồi tùy theo thời cơ thuận lợi, ông sẽ xa xôi nhắn gởi con lại cho ông bà Lục. Đến lúc này, ông Đăng tự biết bản thân ông bà Lục chưa chắc tránh được khó khăn, nói chi đến việc ra tay nghĩa hiệp cứu người. Ông đành yên lặng, lát sau đứng dậy cáo từ. Ra đến đầu ngõ, ông Đăng buột miệng:
- Trời có vẻ thanh bình lắm, chỉ tiếc là...
Ông Đăng kịp giữ lại đoạn cuối: Chỉ tiếc là... tôi không còn dịp ngồi bên ông uống cốc nước để hàn huyên. Trong khi đó, ông Lục lại tưởng ông Đăng tiếc cảnh xưa nên bảo:
- Ông nói phải lắm.
Nói xong, ông Lục quay vào và ông Đăng lững thững bước đi. Chưa đi được mấy bước, ông Đăng bỗng giật mình ớn lạnh. Cái lạnh thấm hơn cả những đêm đông. Theo phản ứng, ông ngoái cổ nhìn lại phía sau. Không một bóng người theo bước chân ông. Ông ngửa mặt nhìn trời cao. Phía trên đầu ông vẫn nghìn sao lấp lánh, và ánh trăng non buông rủ êm đềm xuống trên ngôi làng nhỏ bé. Ông không tìm thấy một dấu vết của qủy thần xuất hiện, nhưng mỗi lúc lòng ông thêm biến động.
Ông nhanh chân hơn khi thấy từng đợt gai ốc thay phiên nhau nổi lên khắp trên người. Ông thêm bối rối, không kiểm soát được những bước chân. Ông đổ mồ hôi hột giữa trời đêm trên con đường làng. Một con đường, vốn dĩ là người bạn thân quen với ông từ mấy chục năm qua. Về gần đến nhà, mắt ông lại chạm vào ánh sao băng vừa đổi ngôi. Dù không phải là người hay tin kiêng nhảm nhí, cũng không phải là người mê tín dị đoan, ông Đăng vẫn run bắn đầu gối lên vì ý tưởng rờn rợn vừa vụt thoáng qua trong trí óc.
Lúc bước vào trong nhà, ông Đăng nom thấy vợ còn ngồi co ro đợi chờ bên ngọn đèn dầu leo lét. Ông mừng rỡ, bước đến, ngồi xuống một đầu cái chõng đối diện với bà. Bà nhìn ông trong thinh lặng. Cùng lúc ấy, Hồi đi sinh hoạt về. Nàng bước đến bên bà Đăng, trịnh trọng thông báo cho ông bà Đăng một bản tin nóng hổi:
- Thày U ạ, buổi sinh hoạt tối nay lạ lắm. Nhà nước tự nhiên cho học tập bài đả kích kịch liệt những thành phần xấu đã tiếp tay cho bọn gián điệp trong nam chống phá cách mạng, phá hoại sự an nguy của tổ quốc. Bài học tập gay gắt lắm. Hơn thế, nhà nước còn khẳng định chính những thành phần có liên hệ với miền nam đã tích cực phá hoại chính sách cải cách ruộng đất của nhà nước.
Ông Đăng biến sắc hỏi lại:
- Có học tập như thế à?
- Thưa vâng!
Bà Đăng vội hỏi chồng:
- Lạ nhỉ ông nhỉ? Lâu nay nhà nước đã ra nghị quyết cấm không cho khơi lại vết thương chia đôi đất nước. Cấm không cho ai đả kích hay nhắc đến những thành phần có con cháu lỡ dại vào nam. Bởi vì, vết thương ấy sẽ gây ra mất tình đoàn kết và tạo ra sự chia rẽ không cần thiết trong hàng ngũ quần chúng nhân dân. Thế tại sao, hôm nay họ lại tổ chức học tập đả kích?
Ông Đăng nhìn vợ, nhìn con, chống tay đứng dậy:
- Bà có nghe chuyện khỉ đội mũ và con vẹt biết nói chưa?